All posts by admin

29Mar/14
logistic

Logistisc Việt Nam: Thời kỳ mở rộng

Từ 11/1/2014, Việt Nam sẽ “mở rộng” cánh cửa theo cam kết WTO cho hầu hết các phân ngành liên quan đến dịch vụ logistics và các DN nước ngoài kinh doanh logistics tại Việt Nam. Đây là một cơ hội lớn để ngành logistics Việt Nam phát triển song cũng đặt ra những thách thức mới.

Những điểm “nghẽn” cần tháo gỡ

Thời gian qua, ngành dịch vụ logistics của nước ta đã có những bước phát triển cả về chất lẫn về lượng, bước đầu đạt được một số kết quả khích lệ. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá qua chỉ số năng lực hoạt động (LPI) của Việt Nam đứng thứ 53 trên 155 nước khảo sát và đứng thứ 5 khu vực ASEAN (2012). Tốc độ phát triển thị trường dịch vụ logistics trung bình đạt từ 15-20%/năm.

Tuy nhiên, chi phí logistics của Việt Nam còn khá cao, chiếm tới 20-25% GDP cả nước. Đây cũng chính là một trong nhiều nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của ngành, lãng phí nhiều nguồn lực trong nước và hạn chế sự cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Nguyên nhân trước tiên tác động đến sự phát triển của logistics là cơ sở hạ tầng.

Hiện nay, cơ sở hạ tầng phục vụ ngành dịch vụ logistics của Việt Nam bao gồm 26 sân bay, trong đó 8 sân bay có đường băng dài 3.000m có khả năng đón nhận các máy bay lớn, 3.200km đường sắt quốc gia, khoảng 17.300km quốc lộ, 49 bến cảng với 217 cầu cảng đang là cơ hội tốt để ngành logistics phát triển.

Trong những năm qua Chính phủ đã dành một phần lớn ngân sách và nguồn vốn ODA để đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông nhằm tạo thuận lợi cho vận tải hàng hóa và dịch vụ logistics phát triển. Hệ thống cảng biển Việt Nam cũng đã và đang được đầu tư xây dựng với quy mô lớn, trang thiết bị xếp dỡ hiện đại.

Tuy nhiên, một trong những hạn chế lớn nhất trong hạ tầng giao thông vận tải là thiếu kết nối đa phương thức, kể cả các khu cảng hiện đại với vùng hậu phương sau cảng, còn tùy thuộc quá nhiều vào đường bộ với tình trạng chung nhỏ hẹp, xuống cấp trầm trọng.

Tiếp đến, khung thể chế và pháp luật về logistics điều chỉnh các hoạt động logistics mặc dù tương đối đầy đủ, gần đây có bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật có tính chất định hướng như quy hoạch, chiến lược phát triển liên quan đến ngành dịch vụ logistics cho các thời kỳ 2020, tầm nhìn 2030, nhưng qua thời gian hội nhập khu vực và quốc tế một số quy định pháp luật về logistics hiện nay đã không còn phù hợp, thiếu cập nhật các định chế cần thiết trong lĩnh vực logistics quốc tế từ đó chưa tạo thị trường dịch vụ logistics minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển bền vững.

Nguyên nhân của tình hình trên một phần lớn do thiếu đầu mối quản lý thống nhất ngành dịch vụ logistics và chậm thể chế hóa, cập nhập hóa các thể chế chính sách phù hợp xu thế phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói riêng cũng như nền kinh tế thế giới nói chung.

Bên cạnh đó, nhà cung cấp dịch vụ của cả nước có khoảng 1.200 DN chủ yếu tập trung tại khu vực TPHCM, Đà Nẵng và Hà Nội. Trừ các DN Nhà nước được cổ phần hóa, còn lại đa số các DN có quy mô nhỏ và vừa, vốn điều lệ bình quân khoảng 4-6 tỷ đồng và nguồn nhân lực đào tạo bài bản chuyên ngành còn rất thấp (5-7%) .

Có trên 25 DN logistics đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhưng chiếm tới 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics của nước ta. Các DN cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn như là nhà thầu phụ trong dây chuyển cung ứng logistics quốc tế.

Đồng thời, khi nói đến đối tượng sử dụng dịch vụ logistics như các công ty thương mại, các DN xuất nhập khẩu, các DN chế biến sản xuất của Việt Nam, nhìn chung, chưa đánh giá hết được tầm quan trọng của việc quản trị logistics và chuỗi cung ứng, đặc biệt là các công đoạn còn lại từ cảng trong nước đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

Kết quả là logistics thường được đồng nhất với việc vận tải đơn giản và việc thuê ngoài logistics vẫn chưa trở thành thói quen chưa kể đến việc ứng dụng logistics trong quản trị sản xuất, chế biến… đã làm chi phí, giá thành sản phẩm hàng hóa cao, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Để ngành logistics cất cánh

Để tạo cho DN logistics Việt Nam thế chủ động và vững vàng trong thời kỳ mới, theo tôi, cần chú trọng vào các nhóm giải pháp sau:

Trước tiên cần thành lập Ủy ban Quốc gia về Logistics như là một yêu cầu cấp bách theo đề xuất của nhiều tổ chức, cơ quan, các chuyên gia trong và ngoài nước tại nhiều diễn đàn và hội thảo. Ủy ban Quốc gia có vai trò “nhạc trưởng”, là đầu mối thực thi các chương trình, mục tiêu chung của ngành, tham gia tư vấn quy hoạch và chiến lược tổng thể phát triển logistics của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Hoàn thiện khung thể chế pháp lý logistics minh bạch, phù hợp xu thế phát triển logistics đương đại, tạo thuận lợi thương mại và thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam; cải cách thủ tục hải quan, thực hiện một cửa quốc gia, điện tử hóa khai quan, ứng dụng thương mại điện tử…

Các Hiệp hội trong ngành cần đẩy mạnh thực hiện hiệu quả chương trình đào tạo huấn luyện tay nghề cung cấp nguồn nhân lực qua đào tạo với tỉ lệ cao hơn hiện nay (mục tiêu 50% qua đào tạo nghề đến năm 2020); có chương trình hành động khả thi và hiệu quả nhằm các gắn kết chặt chẽ các DN cung cấp dịch vụ logistics với nhau và với các cơ quan quản lý Nhà nước.

Đặc biệt, các DN cung cấp dịch vụ logistics phải là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình nâng cao năng lực của mình dựa trên các chính sách của Chính phủ và sự hỗ trợ của Hiệp hội. Đó là, nâng cao dịch vụ, liên kết hợp tác tạo ra các chuỗi dịch vụ có giá trị gia tăng. Đầu tư hoặc hợp tác vốn, công nghệ thông tin trở thành tổ hợp cung cấp dịch vụ logistics 3PL (integrated logistics service).

Ngoài ra, các DN sử dụng dịch vụ logistics có thể tham gia các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội chủ hàng để được chia sẻ thông tin, tư vấn, trang bị thêm kiến thức ngoại thương, hợp đồng mua bán, Incoterm, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, quản trị logistics, quản lý chuỗi cung ứng. Lựa chọn nhà cung cấp phù hợp để thuê ngoài dịch vụ logistics. Tái cấu trúc chuỗi cung ứng ngày càng đáp ứng và cạnh tranh hơn.

Quan trọng nhất là các DN logistics, các DN vận tải biển (kể cả doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng) phải liên kết, đứng cùng chiến tuyến với các DN xuất nhập khẩu, nỗ lực tư vấn, cung cấp giải pháp tối ưu, tin cậy, đảm bảo chuỗi cung ứng hiệu quả, nâng cao tính cạnh tranh hàng hóa, dịch vụ Việt Nam.

Việt Nam đang trong quá trình đàm phán Hiệp định TPP, cơ hội và tiềm năng rất lớn đang mở ra cho nền kinh tế nói chung và từng ngành nói riêng trong đó có ngành logistics. Nhìn lại để đi tới… sẽ giúp ngành logistics Việt Nam cất cánh.

ThS. Đỗ Xuân Quang

Nguồn “Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

28Mar/14
Logistics

Logistics là ‘miếng bánh’ của doanh nghiệp ngoại

Với doanh số hàng tỷ USD mỗi năm, dịch vụ logistics đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài với hoạt động ngày càng sôi nổi. Trong khi đó, các công ty trong nước lại thể hiện sự lép vế và yếu thế.<!–more–>

Ngành logistics Việt Nam đang có hơn 1.000 doanh nghiệp trong nước và 25 công ty nước ngoài tham gia hoạt động. Theo thống kê của Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS), trong 1.000 công ty nội, có khoảng 800 công ty nội địa đang hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải và 70% là doanh nghiệp tư nhân với quy mô nhỏ chỉ có thể cung cấp những dịch vụ có giá trị gia tăng thấp như khai báo hải quan, vận chuyển hàng hóa bằng xe tải hoặc container.

Logistics
Dịch vụ giao nhận vận tải của Maersk Logistics.

Thị trường Việt Nam hầu như chưa có một công ty nội nào có thể đáp ứng được dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Trong khi đó, dù chỉ 25 công ty nước ngoài đang tham gia vào thị trường logistics Việt Nam nhưng chiếm hết 80% thị phần, chiếm lĩnh những hoạt động có giá trị gia tăng cao như vận tải hàng hải, kho bãi…

Theo quy định, từ năm 2012, doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài để kinh doanh dịch vụ logistics. Do đó, nhiều công ty logistics lớn của nước ngoài ở Việt Nam đã chuyển dần từ hình thức đại diện thương mại, liên doanh sang công ty 100% vốn nước ngoài, tiếp tục khai thác mở rộng thị phần tại Việt Nam.

Đánh giá của các chuyên gia logistics thế giới cho biết, sở dĩ thị trường Việt Nam hấp dẫn các công ty logistics hàng đầu thế giới là vì sau khi gia nhập WTO, Việt Nam được nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn như một trung tâm sản xuất của thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ.

Với sự đổ bộ ồ ạt của hàng loạt dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất, các công ty logistics ngoại rất tự tin vào tiềm năng phát triển tại thị trường Việt Nam.

Hiện nay, nhiều công ty logistics hàng đầu trên thế giới như Maersk Logistics, APL Logistics, NYK Logistics, MOL Logistics đã có mặt và ngày càng nâng cao sức ảnh hưởng bằng cách thành lập công ty 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh với các doanh nghiệp nội với tỷ lệ khống chế.

Thế nhưng, trong bối cảnh doanh nghiệp nước ngoài đang tìm mọi cách khai thác thị trường thì các doanh nghiệp trong nước lại chỉ biết vùng vẫy, cạnh tranh lẫn nhau trong hoạt động hạn hẹp, không có giá trị gia tăng cao như vận tải đường bộ hoặc làm thuê cho các công ty nước ngoài do thiếu vốn, nhân lực và công nghệ.

Theo lộ trình, đến năm 2014, ngành logistics sẽ mở cửa hoàn toàn. Do vậy, thời gian tới, môi trường cạnh tranh sẽ rất gay gắt. Trong bối cảnh cơ sở vật chất và dịch vụ hạn chế, các doanh nghiệp trong nước không những sẽ khó lòng cạnh tranh nổi mà còn có nguy cơ ngày càng phụ thuộc hoặc rơi vào tay các doanh nghiệp nước ngoài.

Ông Trần Quốc Bảo, Phó giám đốc Công ty cổ phần Vinafco, nhận định các doanh nghiệp logistics nội chỉ mới đáp ứng được những dịch vụ đơn giản như giao nhận và vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, đại diện cho các công ty vận chuyển thông báo đến khách hàng tình hình vận chuyển hàng hóa, phát hành lệnh giao hàng khi tàu cập cảng hoặc đại diện các hãng tàu thu phí.

Trong khi đó, các hoạt động để gắn kết với doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước là vận chuyển hàng hải, các doanh nghiệp logistics lại không đáp ứng được nên chưa tạo ra sự gắn bó, thúc đẩy phát triển chung cho cộng đồng doanh nghiệp nội. Điều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp trong nước bị các hãng tàu “ép” về các loại phí vận chuyển.

Ngoài ra, trong bảng đánh giá xếp hạng chỉ số hoạt động hiệu quả của ngành logistics, Việt Nam đang đứng thứ 53 trên thế giới và thứ 5 trong khu vực với tốc độ phát triển trung bình 20% mỗi năm.

Tuy nhiên, kết quả này được nhận định phần đóng góp chủ yếu từ hoạt động của các doanh nghiệp logistics nước ngoài. Điều này cho thấy hoạt động logistics của Việt Nam vô cùng thiếu và yếu.

Theo ông Jan Tomczyk, chuyên gia cao cấp của dự án hỗ trợ thương mại đa biên III (Mutrap III), thế mạnh cạnh tranh của ngành logistics thể hiện chủ yếu ở chất lượng và giá cả của các dịch vụ vận tải, phân phối, kho bãi, công nghệ thông tin và hàng hải. Những năm qua, chi phí cho hoạt động logistics của Việt Nam chiếm khoảng 20%, thậm chí có lúc 25% GDP cả nước, khoảng 12 tỷ USD mỗi năm.

Trong đó, chi phí vận tải chiếm đến khoảng 60% tổng chi phí. Nếu như dịch vụ vận tải không phát triển sẽ kéo năng lực cạnh tranh đi xuống và làm chi phí vận tải của một đơn hàng tăng khoảng 10%, gây ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Hoạt động của các công ty logictics ở Việt Nam hiện vẫn còn rời rạc, phương tiện thông tin quá thô sơ và chậm chạp, số liệu không minh bạch cũng đã góp phần đẩy chi phí tăng cao nên khó lòng cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại.

Do đó, để cải thiện vấn đề này, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải sớm tiếp cận và áp dụng nhanh công nghệ thông tin hiện đại để tối ưu hóa và nâng cao hiệu suất dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng hóa. Ở một khía cạnh khác, các doanh nghiệp logistics nội nhận xét, dù các doanh nghiệp trong nước muốn phát triển nhưng hiện đang vướng nhiều rào cản như luật pháp quy định rời rạc, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu.

Các doanh nghiệp trong ngành đang rất mong muốn cơ quan quản lý tiến hành tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ về chính sách, nhân lực, vốn và công nghệ để chuẩn bị bước vào thị trường cạnh tranh sắp tới.

Theo SGĐTTC

van_chuyen_hang_noi_dia

Vận chuyển hàng hóa nội địa

Vận chuyển hàng hóa nội địa là một phần quan trọng để phục vụ hàng hóa được vận chuyển đến bất kỳ điểm nào trên thế giới. Do đó, Long Viet Logistics luôn luôn phấn đấu để đưa ra dịch vụ tốt nhất cho khách hàng nội địa. 
Dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa của chúng tôi thực hiện từ cảng đến khu công nghiệp, nhà xưởng, nhà máy tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương cùng các tỉnh miền Tây, miền Đông Nam Bộ. Song song với nó là dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa từ các cửa khẩu quốc tế như: Mộc Bài, Lao Bảo, Lạng Sơn, Móng Cái. Đặc biệt là dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa từ Nam ra Bắc và ngược lại. van_chuyen_hang_noi_dia Bên cạnh đó, nếu quý khách đã có lái xe, chúng tôi cũng có dịch vụ cho thuê xe tải để quý khách tự vận chuyển hàng hóa của mình. Dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa của Long Viet Logistics bao gồm: – Vận chuyển hàng theo các dự án. – Vận chuyển hàng nguyên container. – Vận chuyển hàng nhỏ lẻ. – Vận chuyễn hàng siêu trường, siêu trọng – Vận chuyển hàng nặng, hàng quá khổ, hàng rời và các hàng hoá nhanh hỏng. Dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng với trách nhiệm cao nhất.

Inland service

logistics

Giao nhận XNK và khai thuế Hải Quan

Logistics là hoạt động không thể thiếu trong các hoạt động sản xuất, lưu thông và phân phối. Đặc biệt, trong thời kỳ các quốc gia đang đẩy mạnh quá trình hội nhập và giao lưu kinh tế, logistics càng trở thành một mắt xích quan trọng của nền kinh tế. Điều này cho thấy rằng, nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp sản xuất, thương mại hiện nay là rất cần thiết và tương đối cao. Nắm bắt được xu hướng này, LongViet Logistics đã và đang tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất và nguồn nhân lực, tập trung phát triển mạnh mảng dịch vụ logistics để ngày càng hoàn thiện chuỗi dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế nhắm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. logistics