All posts by admin

van-chuyen-hang-hoa-quoc-te

Vận chuyển hàng hóa quốc tế

Cùng với hệ thống đại lý ở các nước trên thế giới, đây cũng chính là thể mạnh mà Long Viet Logistics đang hoạt động với dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế đi các nước như: USA, EUs, Asia, Australia, Canada…Đây cũng chính là các thị trường thế mạnh mà Việt Nam đã và đang hợp tác ngày càng phát triển về qui mô lẫn giá trị. Bên cạnh đó khai thác tuyến đường vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam qua Campuchia và Lào sẽ giúp cho việc vận chuyển hàng hóa của quý khách đi các nước này càng dễ dàng hơn càng nhanh hơn và đặc biệt sẽ giúp tiết kiệm chi phí rất nhiều cho quý khách.. Ngoài ra, quý khách muốn vận chuyển hàng hóa đi Nhật, Taiwan nhanh hay nhận hàng nhanh từ Nhật, Taiwan,  thì  Long Viet Logistics sẽ cam kết vận chuyển nhanh và chỉ trong thời gian 24h quý khách đã có thể nhận được hàng hóa. Đến với dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế của công ty chúng tôi, quý khách hoàn toàn yên tâm với đội ngũ nhân viên nhiệt tình và các dịch vụ trọn gói khác như

  • Vận chuyển hàng hóa chứng từ bằng đường hàng không đi các nước.
  • Vận chuyển hàng hóa lẻ(LCL), hàng nguyên cont(FCL), bằng đường biển đi các nước.
  • Thủ tục khai hải quan hàng hóa xuất nhập khẩu.
  • Xin chứng nhận xuất xứ hàng hóa(C/O),Chất lượng sản phẩm(C/Q)…
  • Vận chuyển hàng hóa tận nơi theo yêu cầu(Door To Door).
  • Dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu.
  • Đóng gói,đóng đai kiện hàng hóa xuất khẩu.
  • Dịch vụ cho thuê kho vận trong và ngoài nước.

van-chuyen-hang-hoa-quoc-te Quý khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa quốc tế với dịch vụ chuyên nghiệp, uy tín vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được phục vụ một cách chu đáo nhất trong thời gian sớm nhất.

29Mar/14
Logistics_2

Hội nhập thế giới: Logistic VN được và mất

Từ khi nước ta gia nhập nền kinh tế toàn cầu vào năm 2007, cái được rất lớn của ngành logistics VN là sự phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng. Nếu năm 2007 số DNNVV làm dịch vụ logistics ước tính từ 600-700 DN thì đến 2012 đã có hơn 1.000 DN đang hoạt động ngành dịch vụ logistics.

vantaixe

Được từ thực tiễn kinh doanh

Mặc dù nền kinh tế thế giới từ năm 2008 rơi vào tình trạng khủng hoảng, nhưng các DN dịch vụ logistics VN đã có nhiều kinh nghiệm vượt qua các thách thức, trụ vững nhờ đa dạng dịch vụ, tổ chức bộ máy gọn nhẹ và phong cách phục vụ tận tình làm “lợi thế” kinh doanh. Một số ít đã có những đầu tư về nghiệp vụ, công nghệ theo hướng dịch vụ logistics 3PL (integrated logistics) hoặc hợp tác, “đấu thầu” lại các công đoạn dịch vụ với DN logistics 3PL, 4PL nước ngoài. Trong khi đó các DN có vốn nước ngoài do ưu thế về nhiều mặt, đã dần xác lập vai trò “dẫn dắt” trên thị trường dịch vụ logistics tại VN. Nhưng cũng chính vì thế các DN VN đã có “đối tác”, “người tiên phong” để học tập trong điều kiện ngành dịch vụ logistics VN chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn.

Thế giới, sau thảm hoạ 11/9/2001 ở Mỹ, các chuỗi cung ứng và logistics trên thế giới đã “đổi màu” ! (nhiều rủi ro, mau thay đổi, thiếu an toàn, chú trọng vấn đề môi trường). Sau hội nhập kinh tế thế giới đến nay, thái độ ứng xử và kinh doanh các chủ hàng VN cũng đang có sự thay đổi theo hướng ”nhìn xa trông rộng”, tỉnh táo và linh hoạt hơn để đối phó với nhiều thay đổi, rủi ro trong chuỗi cung ứng của mình. Điều đó có nghĩa là những người sử dụng dịch vụ logistics VN đã có tầm nhìn về chuỗi cung ứng (think supply chain) từ đó quan tâm hơn trong việc thuê ngoài (outsourcing) các dịch vụ logistics. Qua đó, nguồn nhân lực cho ngành logistics VN cũng được đào tạo từ thực tiễn kinh doanh.

Quan trọng hơn, về cơ sở hạ tầng logistics, Nhà nước đã đầu tư phát triển hệ thống cảng biển, trong đó có các cảng nước sâu, tiếp nhận trực tiếp tàu mẹ tải trọng lớn, đưa hàng hóa từ VN đi thẳng qua các nước Châu Âu, Bắc Mỹ. Song song đó, hệ thống giao thông được nâng cấp mở rộng, kết nối các cảng với các khu công nghiệp và đô thị, phát triển đường cao tốc, các cảng cạn (ICD), hệ thống kho hiện đại, trung tâm phân phối và các trung tâm bán lẻ… Thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, kịp hình thành các thể chế tạo thuận lợi và nâng cao năng lực cạnh tranh của người làm dịch vụ logistics, tạo các kết nối hội nhập logistics khu vực và quốc tế cũng như áp dụng công nghệ thông tin, đưa quản trị logistics và chuỗi cung ứng từng bước vào với cộng đồng doanh nhân DN.

Các yếu tố trên đã thúc đẩy ngành logistics VN phát triển. Logistics trở thành lĩnh vực có chức năng liên kết các quốc gia, khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Cộng đồng kinh tế ASEAN đã chọn dịch vụ này là một trong 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập khu vực nhằm xây dựng một thị trường chung vào năm 2015.

Và khó khăn

cont01

Tuy có sự phát triển mạnh mẽ, nhưng ngành logistics VN vẫn còn nhiều tồn tại. Sự phát triển nhanh chóng về số lượng dịch vụ không đồng nhất với sự phát triển về chất lượng. Có quá nhiều các DN kinh doanh dịch vụ logistics nhưng vốn ít, thiếu kinh nghiệm điều hành quản lý và trình độ ngoại ngữ… làm cho các DN logistics VN luôn bị yếu thế so với các DN nước ngoài. Trình trạng mua CIF, bán FOB đã phản ánh rất xác thực vấn đề này. Chưa kể, để có “khách hàng” các DN dịch vụ logistics Việt Nam còn cạnh tranh thiếu lành mạnh, làm giảm chất lượng dịch vụ, mất niềm tin của DN sử dụng dịch vụ và làm xấu hình ảnh ngành logistics VN.

Nguồn nhân lực tuy có được đào tạo, tích lũy kiến thức từ thực tế, nhưng tính chuyên nghiệp và trình độ nhân lực cho việc phát triển ngành dịch vụ logistics toàn cầu vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, với nền kinh tế. VN đang thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực cho ngành logistics. Vì vậy rất cần một chương trình quốc gia về đào tạo nhân lực ngành logistics cho thời kỳ tới.

Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư, nhưng chưa có sự tập trung, chưa hình thành được các trung tâm logistics, cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ ngành logistics chưa được đầu tư đồng bộ giữa các loại hình giao thông, như đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và đường hàng không… đã làm cho chi phí logistics nước ta chiếm tới 25%/GDP, cao hơn rất nhiều so các nước trong khu vực. Điều đó làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa VN.

Các thể chế chính sách của nhà nước đối với ngành logistics cần phải thống nhất quy về một mối quản lý. Hiện ngành logistics nước ta chưa có một cơ quan chủ quản. Để kinh doanh trong lĩnh vực này, các DN kinh doanh lĩnh vực này, phải liên hệ với rất nhiều Bộ, ngành khác nhau… làm cho thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp…

Nền kinh tế hội nhập đã mang lại cho nền kinh tế nước ta nói chung và ngành logistics nói riêng cái được vẫn nhiều hơn cái mất. Để ngành thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cũng như để các DN logistics VN phát triển mạnh, đủ sức hợp tác với các tập đoàn kinh tế nước ngoài, nước ta rất cần khắc phục những điều còn tồn tại.

[Theo đánh giá của Bộ Công Thương, sau 5 năm VN gia nhập nền kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên 1,86 lần, thị trường bán lẻ trong nước tăng bình quân 20-25%/năm và kết quả ngành dịch vụ logistics cũng tăng tương ứng từ 20% đến 25%/năm. Sản lượng hàng hóa qua cảng biển VN đã tăng từ 181 triệu tấn vào năm 2007 lên 286 triệu tấn vào năm 2011. Lượng container cũng tăng trong giai đoạn này khoảng 1,59 lần. Hiện tại đã có trên 60 hãng tàu biển, 51 hãng hàng không có tên tuổi quốc tế đang khai thác các tuyến vận tải kết nối VN với toàn cầu. Hầu hết các tập đoàn, DN logistics lớn trên thế giới đã đến đầu tư, hợp tác liên doanh với VN để tiến hành xây dựng các hạ tầng cơ sở logistics với đạt chuẩn mực quốc tế.

Theo DDDN

29Mar/14
slide3

Xe dùng dầu diesel sẽ chịu phí cao 1,5 lần giá xăng

Phương án thu phí bảo trì đường bộ (BTĐB) bằng cách thu trực tiếp từ đầu ôtô, thu gián tiếp qua giá xăng và từ ngân sách nhà nước cấp bổ sung trực tiếp cho đủ nhu cầu vốn BTĐB, là phương án chính vừa được Bộ GTVT gửi văn bản tới các bộ ngành để lấy ý kiến về dự thảo nghị định quỹ BTĐB.

duongbo01

Phí BTĐB sẽ thu qua giá xăng 1.000 đồng/lít đối với cả ôtô, xe máy. Với ôtô phải đóng thêm phí theo đầu xe, trong đó ôtô sử dụng dầu diesel đóng phí cao gấp 1,5 lần so với xe chạy xăng. Như vậy loại ôtô chạy xăng phải đóng mức tối đa gần 13 triệu đồng/năm, xe sử dụng dầu diesel đóng gần 26 triệu đồng/năm.

Xe dùng dầu diesel sẽ chịu phí cao

Căn cứ nhu cầu kinh phí cho BTĐB hơn 12.000 tỉ đồng mỗi năm hiện nay, nếu thực hiện phương án 2, Bộ GTVT đề xuất hai kịch bản để các cơ quan liên quan xem xét thu phí.

Kịch bản 1 là thu phí sử dụng đường bộ trực tiếp từ đầu ôtô theo nhóm xe và ôtô sử dụng dầu diesel đóng phí cao hơn xe sử dụng xăng 1,5 lần (thu được 6.146 tỉ đồng/năm); thu phí sử dụng đường bộ qua giá xăng dầu được tiêu thụ trên cả nước với mức thu 1.000 đồng/lít (thu được 2.971 tỉ đồng/năm); ngân sách nhà nước cấp bổ sung 3.083 tỉ đồng để đủ nhu cầu vốn BTĐB.

Kịch bản 2, ngoài thu phí theo đầu phương tiện như phương án 1, ngân sách nhà nước sẽ cấp bổ sung cho quỹ BTĐB 6.054 tỉ đồng/năm bằng nguồn từ thuế nhập khẩu xăng dầu, ấn định 1.000 đồng/lít. Bên cạnh đó sẽ cấp ngân sách trung ương cho quỹ trung ương (1.868 tỉ đồng/năm), ngân sách các tỉnh thành cấp cho quỹ địa phương (1.397 tỉ đồng/năm).

Lý giải về mức thu đầu xe sử dụng dầu diesel cao hơn xe sử dụng xăng 1,5 lần, một cán bộ quản lý trong ngành giao thông cũng cho rằng, theo cách tính toán thông thường thì xe sử dụng dầu diesel đa số là phương tiện nặng sử dụng đường lớn, mức gây thiệt hại đường cũng lớn nên việc thu cao hơn xe giá xăng cũng có thể xem là hợp lý.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ôtô Việt Nam lại thận trong hơn khi cho răng, việc thu phí xe sử dụng dầu diesel cao hơn xe sử dụng xăng 1,5 lần trong phương án trên cần phải tính toán lại sao cho phù hợp. Ông Hùng cũng cho rằng phương án này có sự lấn cấn về việc cả thu trực tiếp và gián tiếp hỗn hợp và nên thu theo phương án gián tiếp qua xăng dầu.

“Theo tôi nên thu theo phương án qua xăng dầu là tốt nhất vì phương án này công bằng, bình đẳng. Người sử dụng nhiều đóng nhiều, người sử dụng ít đóng ít”, ông Hùng nói.

Xem xét thêm hai phương án

Trong dự thảo, Bộ GTVT cũng đưa ra hai phương án khác tạo nguồn thu cho quỹ BTĐB. Cụ thể: thu trực tiếp từ đầu phương tiện, thu gián tiếp qua giá xăng, dầu diesel, ngân sách nhà nước cấp bổ sung (phương án 1) và thu trực tiếp theo đầu phương tiện, kết hợp ngân sách nhà nước cấp bổ sung (phương án 3).

Theo phương án 1, ngoài việc thu theo đầu ôtô với mức khoảng 100 đồng/km, sẽ thu theo đầu xe với môtô, xe máy với mức 80.000 đồng/năm với xe máy, môtô theo ba mức 100.000-120.000-150.000 đồng theo dung tích xilanh. Đồng thời thu qua giá xăng 1.000 đồng/lít, qua dầu diesel 170 đồng/lít và tiếp tục duy trì các trạm thu phí đường bộ.

Phương án 3 là thu trực tiếp từ đầu phương tiện cơ giới đường bộ gấp 1,5 lần so với phương án 1; số thu từ môtô, xe máy của địa phương nào thì cấp trực tiếp cho quỹ BTĐB của địa phương đó, số thu trực tiếp từ đầu ôtô sẽ cấp cho quỹ BTĐB trung ương để điều tiết, phân bổ; ngân sách nhà nước cấp bổ sung 3.220 tỉ đồng.

Theo Bộ GTVT, nếu thực hiện phương án 2, Bộ GTVT đề nghị xóa bỏ ngay các trạm thu phí nộp ngân sách nhà nước (15 trạm), các trạm thu để trả nợ vay (4 trạm) và xóa bỏ 6 trạm đã bán quyền thu phí khi hết hợp đồng. Chi phí để xóa bỏ, sắp xếp lao động ở các trạm thu phí này cần 150 tỉ đồng. Riêng 30 trạm BOT hiện nay vẫn tiếp tục thu hoàn vốn cho nhà đầu tư theo thời hạn hợp đồng.
Theo Bộ GTVT, phương án 2 sẽ đảm bảo thu đúng đối tượng chịu phí BTĐB, các ngành, lĩnh vực sử dụng dầu diesel không tham gia giao thông đường bộ không phải đóng phí, khắc phục tình trạng thất thu đối với người sử dụng môtô, xe máy do đã nộp phí qua giá xăng. Bộ GTVT cũng cho rằng thực hiện phương án 2 thì có 5% tổng lượng xăng thông thường mà những người sử dụng không cho giao thông đường bộ như dùng cho máy phun sơn, bơm nước loại nhỏ, máy cắt cỏ… vẫn phải chịu một khoản phí BTĐB, tuy nhiên tác động tiêu cực không lớn so với hiệu quả của phương án này.

Theo Vietnamnet

29Mar/14
log2

Phát triển Logistics: Cách nào?

Để phát triển logistics, bên cạnh việc hoàn thiện các văn bản pháp luật thì đầu tư kết cấu hạ tầng, cải tiến dịch vụ, giảm chi phí vận tải là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.

Thói quen mua CIF bán FOB

DSC 0144 92496Theo Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Công, ngành logistics Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng, các doanh nghiệp (DN) cung cấp dịch vụ logistics đã lớn mạnh cả về lượng và chất, tuy nhiên, chưa phát triển đồng bộ, năng lực cạnh tranh yếu, thị phần nhỏ.

Cụ thể, với hơn 1.000 DN, nhưng phần lớn chỉ hoạt động trong thị trường nội địa hoặc một vài nước trong khu vực, dịch vụ cung ứng còn nhỏ lẻ, rời rạc. Các chủ hàng xuất nhập khẩu vẫn duy trì thói quen mua CIF, bán FOB trong quan hệ thương mại quốc tế, việc vận chuyển hàng hóa và các dịch vụ logistics đều do người mua hoặc người bán định đoạt. Thường thì họ lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ logistics của quốc gia mình, nên các DN vận tải, logitics của Việt Nam hầu như không có cơ hội tham gia cung cấp dịch vụ.

Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Mức độ liên thông, tính kết nối về hạ tầng và dịch vụ giữa các phương thức vận tải còn hạn chế. Thêm vào đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; năng lực quản lý nhà nước chưa cao; thủ tục hành chính rườm rà… Việt Nam cũng chưa có cơ quan điều phối chung chuỗi hoạt động logistics, khiến công tác quản lý nhà nước về logistics bị phân tách, rời rạc nên hiệu quả chưa cao.

Phấn đấu giảm chi phí xuống 15%

Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phân phối hàng hóa, xuất nhập khẩu, chi phí vận tải chiếm tới trên 40%, ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển, giá thành sản phẩm… quan trọng hơn là năng lực cạnh tranh của DN và quốc gia. Do vậy để khắc phục những điểm yếu, phát triển logistics, cần có sự tham gia của cả nhà nước và DN. Theo đó, về phía các bộ, ngành, địa phương cần phối hợp nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các chiến lược, quy hoạch về logistics. Các DN cần chủ động đầu tư, nâng cao năng lực, đổi mới công nghệ, đa dạng hóa các dịch vụ logistics đáp ứng nhu cầu thị trường.

Trong năm 2014, Bộ Giao thông vận tải sẽ thực hiện nhiều đề án quan trọng, kể cả về hạ tầng giao thông cũng như các dịch vụ hỗ trợ vận tải để nâng cao hiệu quả và chất lượng quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ, đường sắt, hàng hải, hàng không nhằm mục đích tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực sẵn có.

Bộ cũng sẽ triển khai xây dựng Đề án phát triển logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải đến năm 2020, Đề án tái cơ cấu vận tải và kết nối các phương thức vận tải. Đồng thời xây dựng “Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” với một trong những mục tiêu quan trọng là giảm chi phí vận tải, góp phần đưa chi phí logistics xuống còn 15% tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế quốc dân vào năm 2020.

Nguồn “Báo Công Thương Điện Tử”